Xung đột Trung Đông: Nông nghiệp và môi trường Việt Nam chịu sức ép lớn

Trung Đông được đánh giá là một trong những thị trường tiềm năng đối với nông sản Việt Nam. Theo Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, năm 2025 kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam sang khu vực này đạt khoảng 1,5 tỷ USD, tăng hơn 22% so với năm trước. Ba mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn nhất là hạt điều, thủy sản và hồ tiêu, sử dụng tỷ lệ đáng kể trong tổng kim ngạch.
Tuy nhiên, căng thẳng địa chính tại Trung Đông đang bắt đầu tạo ra những tác động đối với hoạt động xuất khẩu . Theo ông Lê Thanh Sơn, Giám đốc Khối kinh doanh hàng hóa của Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu 2-9 Đăk Lăk (Simexco Daklak), doanh nghiệp đã tạm dừng xuất khẩu sang Trung Đông và chờ đến khi tình hình ổn định trở lại. Ông Sơn cho biết, mức độ ảnh hưởng giữa các mặt hàng là khác nhau, trong đó hồ tiêu tốn tác động tuyệt vời hơn.
Hiện Trung Đông tiêu thụ khoảng 18% sản phẩm xuất khẩu hồ tiêu của Simexco Daklak và sử dụng khoảng 17,5% tổng lượng xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam. Khi xung đột xảy ra, một đơn hàng buộc phải tạm dừng hoặc chuyển hướng sang trường khác.
Tác động cũng đã bắt đầu xuất hiện ở lĩnh vực rau quả. Tại Lâm Đồng, nơi có hơn 400 ha thanh dài, giá thanh long vỏ vàng giảm mạnh khi đơn hàng xuất khẩu xà giảm. Nếu như dịp Tết trước đây giá có thể đạt gần 90.000 đồng/kg thì hiện nay chỉ còn khoảng một nửa.
Theo ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, nhóm nông sản tươi sống chịu tác động mạnh nhất do thời gian bảo quản ngắn. Khi phải chuyển hướng sang thị trường mới, doanh nghiệp phải điều chỉnh cách đóng gói, tiêu chuẩn kỹ thuật và kênh phân phối, làm tăng chi phí.
Không chỉ dành riêng cho nông sản, ở góc ngành gỗ, ông Ngô Sỹ Hoài, Phó chủ thư tổng hợp ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho rằng, hiện vẫn còn sớm để cung cấp mức độ toàn diện. Tuy nhiên, nếu các tuyến hàng hải qua khu vực Vịnh được giới hạn chế độ, thời gian vận chuyển có thể kéo dài thêm 10-15 ngày, kéo dài thời gian tải chi phí và tăng cường bảo mật.
Bên bờ biển đó, bất ổn tại các tuyến biển chiến lược như Hồng Hải hay eo biển Hormuz lực lượng nhiều hãng tàu phải điều chỉnh lộ trình, tạo ra chi phí vận tải biển tăng đáng kể. Điều này tạo ra sức mạnh lớn hơn cho các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm thủy tinh , đặc biệt với những mặt hàng cần bảo quản lạnh như tôm, cá tra hay trái cây tươi. Chi phí logistics gia tăng không chỉ thu hẹp biên lợi nhuận mà còn kéo dài thời gian vận động, ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa và năng lượng doanh nghiệp phải tính toán lại giá bán cũng như chiến lược cạnh tranh trên thị trường.
Không gây áp lực kinh tế, xung đột tại Trung Đông nhưng đặt ra những vấn đề môi trường đáng chú ý. Một số cuộc tấn công tấn công vào nhà máy khử mặn và hệ thống nước cấp trong khu vực đã làm tăng tốc lo về nguy cơ ô nhiễm và thiếu tiền tài nguyên nước.
Theo các chuyên gia, điều này cho thấy xung đột địa chính trị không gây tổn hại kinh tế mà còn có thể gây rủi ro cho môi trường và nhân đạo lâu dài.
Đối với Việt Nam, tác động môi trường chủ yếu mang tính gián tiếp. Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu tạo ra nền kinh tế dễ bị tổn thương trước các cú sốc chất lượng toàn cầu.
Theo chuyên gia tài chính Nguyễn Trí Hiếu, những biến động hiện nay có thể trở thành động lực cung cấp quá trình chuyển đổi năng lượng và sản phẩm bền vững.
“Nếu giá năng lượng hóa thạch tiếp tục biến động mạnh thì các quốc gia trong đó Việt Nam sẽ có động lực lớn hơn để đầu tư vào năng lượng tái tạo và mô hình nông nghiệp tiết kiệm năng lượng”, ông Hiếu phân tích.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, việc mở rộng sử dụng phân tích hữu cơ, ứng dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng và phát triển điện mặt trời trong sản phẩm có thể giúp giảm phụ thuộc vào các nguồn đầu vào nhập khẩu.
Bên cạnh đó, các chuyên gia khuyến nghị doanh nghiệp cần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và tuyến vận động để giảm thiểu rủi ro từ cú sốc địa chính trị.
Trong bối cảnh xung đột Trung Đông vẫn tiềm ẩn nhiều diễn biến khó khăn, công việc thích ứng, nâng cao khả năng tự động về năng lượng và đầu vào sản xuất được xem là yếu tố quan trọng giúp nền kinh tế Việt Nam giảm thiểu tác động từ những biến động bên ngoài.
Nguồn: Bộ NN&MT
Giá cà phê trong nước
| Thị trường | Trung bình | Thay đổi |
|---|---|---|
| Đắk Lắk (Triệu/Tấn) | 88300.00 | 1200.00 |
| Gia Lai (Triệu/Tấn) | 88300.00 | 1200.00 |
| Lâm Đồng (Triệu/Tấn) | 176300 | 2500 |
| Tỉ giá USD / VND | 26,227.00 | 0.00 |
| Cập nhật | 14/05/2026 01:30 | |
Giá cà phê Robusta GD tại London
| Kỳ hạn | Giá (USD/Tấn) | +/- | % |
|---|---|---|---|
| 01/27 | 3211 | -152 | -4.51 |
| 05/26 | 3419 | -174 | -4.83 |
| 07/26 | 3348 | -168 | -4.77 |
| 09/26 | 3291 | -164 | -4.74 |
| 11/26 | 3251 | -158 | -4.62 |
| Cập nhật | 14/05/2026 01:30 | ||
| Giá tham chiếu tại ICE Europe | |||
Giá cà phê Arabica GD tại New York
| Kỳ hạn | Giá (Cent Mỹ/Pound) | +/- | % |
|---|---|---|---|
| 03/27 | 263.35 | -7.6 | -2.79 |
| 05/26 | 292.55 | -9.15 | -3.02 |
| 07/26 | 286.6 | -9.3 | -3.13 |
| 09/26 | 275.6 | -9 | -3.15 |
| 12/26 | 266.8 | -7.9 | -2.87 |
| Cập nhật | 14/05/2026 01:30 | ||
Tiếng Việt
English